Trong dòng chảy lịch sử Phật giáo Việt Nam, Trưởng lão Hòa thượng Thích Đỗng Quang là bậc cao tăng khả kính, trọn đời dấn thân phụng sự Đạo pháp và Dân tộc. Với đạo hạnh thanh cao, trí tuệ uyên thâm và tấm lòng từ bi rộng lớn, Ngài đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng Tăng Ni, Phật tử cũng như những người hữu duyên. Lược truyện về cuộc đời và hành trạng của Trưởng lão Hòa thượng không chỉ nhằm tưởng niệm công đức của một bậc chân tu, mà còn là dịp để hậu học soi chiếu, học hỏi và tiếp nối con đường tu tập mà Ngài đã tận tâm vun bồi.

Và hôm nay chi phái chúc thánh Gia Lai xin cập nhật cũng như giới thiệu chi tiết về Trưởng lão Hòa thượng Thích Đỗng Quang đến với tất cả bạn đọc cùng hiểu thêm nhé!

Lược truyện TRƯỞNG LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH ĐỖNG QUANG

Trưởng lão Hòa thượng Thích Đỗng Quang nối dòng Thiền Lâm Tế đời thứ 42. Pháp húy thượng Như hạ Cầu tự Hạnh Đắc hiệu Đỗng Quang. Thế tánh Nguyễn danh Văn Minh, xuất thế năm Ất Sửu (1925), tại thôn Vĩnh An, xã Mỹ Phong, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định (nay là tỉnh Gia Lai). Thân phụ là cụ ông Nguyễn Văn Cảnh pháp danh Tâm Trọng về sau xuất gia pháp hiệu Thiện Châu. Thân mẫu là cụ bà Trần Thị Hanh pháp danh Tâm Thông. Hòa thượng sinh trưởng trong gia đình nho phong, kính tín đạo Phật.
Thời niên thiếu, Hòa thượng sống cùng gia đình tại quê nhà, học tiểu học và Hán văn tại địa phương. Năm 19 tuổi thì thân phụ Hòa Thượng phát nguyện xuất gia ở chùa Thành Lâm tại quê nhà, vì vậy Hòa Thượng có duyên được hầu Thầy tham học Phật Pháp.
Đến năm 20 tuổi nhân duyên xuất trần đã đủ, chí thoát tục đã tròn, Ngài lễ cầu Hòa Thượng Thích Trí Hạnh trụ trì chùa Bảo Sơn Phù Mỹ làm Thầy xuất gia tu học, được Bổn sư ban pháp danh là Như Cầu nối pháp dòng Thiền Lâm Tế. Từ đây đèn thiền soi trí hải, pháp mạch diễn đạo mầu, Ngài chuyên tâm tu học Phật Pháp.
Đến năm Canh Dần (1950) Hòa thượng được Bổn sư cho đi học tại Tổ đình Thập Tháp, sau đó Ngài về lo Phật sự tại chùa Chi hội Phật giáo huyện Phù Mỹ. Đến năm Nhâm Dần (1952) Hòa Thượng được Bổn sư cho thọ cụ túc tại giới đàn chùa Thiên Bình, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định, do HT Huệ Chiếu tổ đình Thập Tháp làm Đường đầu, sau khi đắc giới được ban pháp hiệu là Thiện Thệ.
Sau khi thọ giới Hòa Thượng tham học nhiều nơi như khóa học Phật Pháp tại chùa Thiên Sanh Thạch Tự, Năm Ất Mùi ( 1956) Ngài vào học tại Phật học đường Trung Phần chùa Long Sơn Nha Trang. Đến năm Đinh Dậu (1957) Hòa thượng trở về Bình Định làm Hội trưởng hội Phật giáo huyện Phù Mỹ và trụ trì chùa Chi hội Phù Mỹ. Năm Canh Tý (1960) Ngài vào dự khóa kiết đông tại Tổ đình sắc tứ Thiền Lâm, cầu pháp y chỉ với Trưởng lão Hòa thượng Thích Huyền Tân, được Tổ phú pháp với pháp tự Hạnh Đắc, hiệu Đỗng Quang. Từ đây đèn thiền rạng rỡ pháp phái xương long, đạo mạch tỏ tường.
Đầu năm Nhâm Dần (1962) Hòa thượng trùng tu chùa Chi hội Phật giáo huyện Phù Mỹ. Mùa Phật đản năm Quý Mão ( 1963) chính quyền Ngô Đình Diệm, với chính sách kỳ thị tôn giáo, đã ra tay đàn áp Phật giáo, Hưởng ứng lời kêu gọi của Tổng hội Phật giáo Trung phần, Hòa thượng là thành viên của phái đoàn Phật giáo tỉnh Bình Định ra Huế dự lễ truy điệu Thánh tử đạo. Đến cuối năm 1963, sau khi chế độ Ngô Đình Diệm sụp đổ, Hòa thượng lên hoằng pháp tại tỉnh Pleiku (cũ). Năm 1964 – 1966, GHPGVNTN ra đời, Hòa thượng được Viện Hóa Đạo đề cử đảm nhiệm chức vụ Chánh đại diện giáo hội Phật giáo tỉnh Pleiku, trụ trì chùa Bửu Thắng .
Năm 1965 khai sơn chùa Quan Âm Pleiku trên phần đất của ông bà Nguyễn Hạ và Trần Thị Hay phát tâm cúng dường.
Năm 1966 – 1968 Hòa thượng được đảm nhiệm Phó ban đại diện Phật giáo tỉnh Khánh Hòa.
Từ năm 1972 đến 1974, Hòa thượng làm Đặc ủy Tăng sự Ban đai diện Phật giáo tỉnh Pleiku (cũ).
Từ năm 1975 đến 1981, Hòa thượng làm quyền Chánh đại diện Phật giáo tỉnh Pleiku.
Năm 1977, Hòa thượng làm đệ tứ tôn chứng tại Đại giới đàn Quảng Đức do GHPGNVTN tổ chức tại chùa Ấn Quang.
Năm 1982, khi Tỉnh hội Phật giáo tỉnh Gia Lai – Kon Tum được thành lập, Hòa thượng được suy cử làm Trưởng Ban Trị sự nhiệm kỳ I và lưu nhiệm cho đến ngày chia tỉnh. Hòa thượng cũng tham gia Ủy viên Mặt trận Tổ quốc tỉnh Gia Lai – Kon Tum, và Hội đồng nhân dân tỉnh.
Tại Đại hội Phật giáo toàn quốc nhiệm kỳ II (1987 – 1992) Ngài được tấn phong lên hàng giáo phẩm Hòa Thượng.
Năm 1999, Hòa thượng được Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tặng Huân chương vì sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc.
Tại Đại hội kỳ V (2002), Hòa thượng được suy tôn lên ngôi vị thành viên Hội đồng Chứng minh GHPGVN; và cũng tại Đại hội Đại biểu Phật giáo tỉnh Gia Lai lần thứ 2 (2002) Hòa thượng được Tăng Ni, Phật tử cung thỉnh vào ngôi vị Chứng minh Ban Trị sự cho đến ngày về cõi Phật.
Với sự nghiệp truyền đăng tục diệm, nối gót chư Phật, cùng các bậc Tổ sư, vì sự nghiệp tiếp dẫn hậu lai, Hòa thượng là một vị giảng sư, với đạo phong uy nghi, ngôn từ hòa ái, Hòa Thượng còn là một vị Gia trì Sư mật hạnh nghiêm trì, Phạm âm diễn pháp, được Tăng già kính ngưỡng Phật tử quy y. Công đức và đạo hạnh của Hòa thượng mãi là tấm gương để muôn đời tứ chúng đệ tử noi theo học tập.
Sau hơn 50 năm Hòa thượng trác tích hoằng pháp độ sanh tại núi rừng Gia Lai. Hơn 90 năm hiện hữu trên cuộc đời, hơn 60 năm cống hiến trí tuệ, tài đúc cho sự nghiệp xương minh chánh pháp, giờ đây ý nguyện và công hạnh của Hòa thượng đã viên mãn. Theo định luật vô thường, sau thời gian thọ bệnh, Hòa thượng thâu thần thị tịch bào lúc 8 giờ ngày mùng 7 tháng Giêng năm Giáp Ngọ (2014), tại phương trượng chùa Quan Âm, phường Trà Bá, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai, trụ thế 90 tuổi, 63 hạ lạp. Phù đồ bảo tháp được lập trong tháp lâm của tổ đình Quan Âm phường Hội Phú tỉnh Gia Lai.
Với công đức và đạo hạnh cao dày của Hòa Thượng trong sự nghiệp hoằng pháp lợi sanh và xây dựng giáo hội tỉnh nhà, năm Ất Tỵ 2025 BTSGHPG tỉnh Gia Lai khải kiến Đại Giới Đàn, tôn vinh pháp hiệu của Ngài làm danh xưng Đại Giới Đàn Cam Lộ Đỗng Quang để tỏ lòng tri ân báo đức. Ngưỡng nguyện Hòa Thượng nghê tòa Thiền giám.
Nam mô Cam Lộ Đỗng Quan Đại Giới Đàn Danh xưng Đức hiệu. Từ Lâm Tế Chánh Tông, tứ thập nhị thế, khai sơn Quan Âm đường thượng húy thượng NHƯ hạ CẦU, tự HẠNH ĐẮC, hiệu ĐỖNG QUANG Hòa thượng Tổ sư.
Cuộc đời và đạo nghiệp của Trưởng lão Hòa thượng Thích Đỗng Quang là tấm gương sáng về hạnh nguyện xuất trần, lấy giới luật làm nền tảng, lấy từ bi và trí tuệ làm phương châm hành đạo. Dù thời gian trôi qua, nhưng công hạnh và những đóng góp của Ngài đối với Đạo pháp vẫn còn lưu dấu sâu đậm trong lòng Tăng Ni và Phật tử. Lược truyện này xin được thành kính ghi lại đôi nét về cuộc đời thanh cao ấy, như nén tâm hương dâng lên bậc Trưởng lão khả kính, đồng thời nhắc nhở hàng hậu học noi theo chí nguyện của Ngài, tinh tấn tu hành, tiếp nối ánh sáng chánh pháp, làm lợi lạc tự thân và xã hội.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *